vàng phai mấy lá...

NS. Đoàn Chuẩn

Tích, trong văn học, hay trong những lời đối đáp vẫn thường dùng những tích xưa, như một cách mượn lời diễn đạt đầy khéo léo và thâm nho.

Tích, lại gặp trong tác phẩm của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, có một điều hơi khác so với mười mấy sáng tác của ông – sử dụng rất nhiều điển tích để diễn đạt nội dung lớn mà các sáng tác khác của ông hướng đến: tình yêu. Cùng thời, những năm 1953-1954, Cung Tiến cũng sáng tác một tác phẩm sử dụng những điển tích, “Hương xưa”, để lòng người lắng sâu hơn vào những giai điệu ấy.

Trong Vàng phai mấy lá, Đoàn Chuẩn – Từ Linh đã nhắc đến khá nhiều điển tích, “đốt Cô Tô thành”, “Mỵ Cơ” – “Tiêu Nhiễn”, “Phù Sai rắc hoa vàng”, “Quỳnh Dao”. Tất cả, như hợp về sợi đây có tên “oan trái”, mang đến những “bẽ bàng”, “lỡ làng”, để rồi

Từ nay bèo trôi, cầu xiêu, con đò nát
Và mây đìu hiu cây rụng lá, thân mình về đâu?
Đàn chùng, dây phím lỡ, mái đổ nhà xiêu,
Nhẹ như tiếng khóc thầm.
Mây sầu vương chót núi, đường chia biên giới,
Người xa nhau mãi
Giấc chiêm bao đêm nào chìm
Trong sương khói thời gian.

…tất cả đều sụp đổ. Nét nhạc hòa thành một chuỗi trầm lắng, có chút gì đó của sự hụt hẫng tràn lan. Mất mát, đau thương quá lớn, để rồi tạo thành một thứ thanh âm ám ảnh, lay động hồn người.

Tất cả vì tình duyên, quân vương rồi cũng ngậm ngùi, ngập ngừng, chua xót lẫn đắng cay khi đứng trước một ngã ba, khó chọn muôn vàn.

Đến bây giờ yêu không đành,
Mà ghét cũng không đành, mà dứt cũng không đành

Con người, vẫn thường xuyên đối diện với những lựa chọn, trong những áng thơ, văn, ca, kịch không ít tác phẩm đã nhắc đến. Tố Hữu đã từng “bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước/chọn một dòng hay để nước trôi”, Đoàn Phú Tứ để lại cho đời vở kịch “Ngã ba”, Trần Dần với tiểu thuyết “Những ngã tư và những cột đèn”…

Và rồi… Thu về…

Mùa thu, trong đôi mắt Đoàn Chuẩn như chuyển tải những thông điệp…

“Nhớ tới mùa Thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt hương” (Bài “Lá Thư”)
“Đêm hôm nay ngồi dưới ánh trăng Thu, rút tơ lòng để viết lá thư…” (“Cánh hoa duyên kiếp”)
“Đây ý đưa duyên, đây hoa đợi bướm, lá Thu lìa cành tiếc hoa nghìn xưa…” (“Tình nghệ sĩ”)
“Anh mong chờ mùa Thu, trời đất kia ngả màu xanh lơ…” (Thu quyến rũ”)
“Một sớm Thu về chuyển bến xuôi, về nơi nữa trời ?, bến nao ?…” (“Chuyển bến”)
“Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về…” ( “Lá đổ muôn chiều”)
“Anh còn nhớ em nói rằng “Sao mùa Thu lá vẫn bay…” (“Tà áo xanh” tức “Dang dở”)
“Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư, về đây với Thu trần gian…” ( “Gửi gió cho mây ngàn bay”)

Và rồi… Thu về…

trong “Vàng phai mấy lá”, mang về một thứ: phôi pha

Tình duyên đã dứt,
Đường chia đôi lối

Cánh hoa vì đợi anh rã rời, héo tàn úa vàng,
Vùi sâu trong kiếp thời gian.

Tích, lại gặp trong cuộc đời người nhạc sĩ của mùa Thu, có quá nhiều tích quanh cuộc đời ông, từ những người ông vốn có tình cảm, từ những ca khúc ông viết để đề tặng, từ người bạn Từ Linh của ông, và cả tên ca khúc trong bài viết này… Thế nên cũng có quá nhiều dự đoán, bình luận. Song, thật, hư chỉ người trong cuộc biết. Có lẽ Đoàn Chuẩn đã chọn một cho mình một cách là im lặng trước những thực hư.

Có một điều nên quan tâm hơn, ông đã đến trong cuộc đời này, để lại cho đời, cho người những bản tình ca viết về mùa Thu tuyệt đẹp. Dù số lượng tác phẩm ông sáng tác ít ỏi song cũng đủ để lưu danh, trường tồn và sẽ còn hát mãi, mai sau.

Đoàn Chuẩn – Từ Linh tác phẩm nào cũng không thể bỏ qua. Ở tác phẩm này, thật sự bị ám ảnh bởi giai điệu

Từ nay bèo trôi, cầu xiêu, con đò nát
Và mây đìu hiu cây rụng lá, thân mình về đâu?

Giai điệu, không cần phải đến những nốt hoa mĩ, cao trào, kịch tính mới tạo nên rung động.

Bản thu âm trước 75 tìm vô vọng, chỉ có các bản thu sau này, và đáng chú ý nhất là ba bản thu của Mai Hương, Lê Dung và Ánh Tuyết. Tuy nhiên, ba bản thu này phần lời cũng có sự khác biệt. Lê Dung hát ngắt đi đoạn cuối, Ánh Tuyết hát khác đi một số đoạn, từ so với bản thu của Mai Hương. Thực hư về bản gốc vẫn là ẩn số.

Trong các bản thu âm, thích nhất hai bản của Lê Dung và Mai Hương, thích, đơn giản là thích thôi.

Wal
21-22.06.2011
Nhãn: ,
edit